Tiếng nhật 郷土料理と vị umami
Ẩm thực địa phương ở Nhật Bản
và Umami

Ẩm thực địa phương của Ishikawa

Nasu no orandani
Nasu no orandani

Lễ Risshū (8–22 tháng 8) được coi là khởi đầu của mùa thu theo truyền thống 24 tiết khí. Vào thời điểm này, cà tím - một loại rau mùa hè kinh điển - đang vào mùa thu hoạch rộ. Một món ăn địa phương từ tỉnh Ishikawa sử dụng cà tím, gọi là Nasu no orandani, thường được phục vụ trong mùa thu hoạch.
Cái tên Orandani được cho là bắt nguồn từ một phương pháp nấu ăn phương Tây được du nhập qua tỉnh Nagasaki. Món ăn đơn giản này bao gồm việc cắt nhỏ cà tím nguyên quả và ninh nhừ trong nước dùng được làm từ dashi, nước tương và đường.

Ở tỉnh Ishikawa, đây là một món ngon mùa hè phổ biến, cùng với Nasu somen - một món ăn được làm từ cà tím hầm và mì somen. "Nasu no olandani" rất thích hợp cho thời điểm này trong năm ở Nhật Bản và cũng có thể dùng lạnh. Cà tím được ngâm kỹ với vị umami của dashi sẽ có hương vị vô cùng thơm ngon.

Kamo no Jibuni
Kamo no Jibuni

Jibuni là món ăn truyền thống của tỉnh Ishikawa.
Món này được làm từ thịt vịt ninh nhừ, sudare-fu (một loại gluten lúa mì mềm đặc trưng của tỉnh này) và các loại rau theo mùa. Thịt vịt được phủ một lớp bột để làm đặc nước dùng, tạo nên nét đặc trưng của món ăn.

Có nguồn gốc từ ẩm thực samurai, món ăn này được cho là đã được sử dụng từ thời Edo. Một giả thuyết cho rằng vị daimyo theo đạo Thiên chúa Ukon Takayama đã học được món ăn này từ một nhà truyền giáo và truyền lại cho vùng Kaga. Mặc dù người ta tin rằng món ăn này ban đầu là một món ăn của samurai, nhưng người dân thường cũng săn bắt chim di cư từ đất liền và làm món Jibuni vào mùa thu và mùa đông.

Theo thời gian, món ăn này bắt đầu được phục vụ tại các nhà hàng và được dâng lên như một món cống phẩm cho các lãnh chúa phong kiến. Từ đó trở đi, theo truyền thống, món ăn này được phục vụ trong một chiếc bát mỏng đặc biệt với miệng rộng và nông. Cho đến ngày nay, món ăn này vẫn được thưởng thức như một bữa ăn gia đình để chào đón khách khứa và như một món ăn cho những dịp đặc biệt. Nó cũng được phục vụ tại các nhà hàng Nhật Bản chuyên về ẩm thực địa phương. Bằng cách rắc bột mì lên thịt trước khi nấu, vị umami của thịt vịt được giữ lại và nước dùng sánh lại, cho phép các hương vị hòa quyện một cách hài hòa. Tùy theo mùa, hải sản cũng có thể được thêm vào. Khi sử dụng wasabi, vị cay sảng khoái của nó hòa quyện hoàn hảo với thịt vịt mềm.

Kaburazushi
Kaburazushi

Kanburi, cá đuôi vàng mùa đông được thu hoạch từ Biển Nhật Bản, nổi tiếng là béo. Đuôi vàng được ướp muối và đặt giữa một khe cắt thành củ cải mùa đông. Củ cải và củ cải vàng được lên men bằng nấm mốc koji (aspergillus oryzae) và amazake, một loại sền sệt ngọt tự nhiên được làm từ nấm mốc koji. Kiểu sushi này được gọi là narezushi và là một trong những kiểu sushi đầu tiên. Narezushi có trước Edomae sushi mà ngày nay đã phổ biến trên khắp thế giới.

Kaburazushi được làm vào mùa đông ở vùng có khí hậu lạnh giá của vùng Hokuriku. Nhiệt độ mùa đông lạnh hơn sẽ làm chậm quá trình lên men làm cho sushi dần già đi. Kaburazushi đã được công nhận là một món ăn ngon của Kanazawa từ thời Edo (1603-1868). Trước đây, người ta thường làm kaburazushi ở nhà và các loại cá khác ngoài cá đuôi vàng có thể được sử dụng như cá thu saba. Mỗi hộ gia đình có công thức riêng mà họ tự hào và kaburazushi là của bạn bè.

Kaburazushi thường được phục vụ vào ngày đầu năm mới. Nhiều siêu thị sẽ bán bánh koji-mold và amazake vào mùa này. Quận Toyama lân cận cũng có văn hóa ăn kaburazushi. Khi kaburazushi già đi, sushi sẽ có một chút chua từ quá trình lên men lactic. Đuôi vàng muối có vị umami đậm đà. Món ăn là sự cân bằng của muối, axit và vị umami. Nó có một hương thơm sống động độc đáo, là một đặc điểm riêng của các món ăn lên men.